THỜI ĐẠI TUDOR

Việc sử dụng nước hoa không thực sự trở nên phổ biến ở Anh cho đến thời nữ hoàng Elizabeth I. Trong khoảng thời gian này, tình trạng thiếu vệ sinh ở phương Tây vẫn tiếp diễn từ thời Trung cổ, kéo dài đến thời kỳ Tudor, đây là nguyên nhân đòi hỏi người ta phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để ngụy trang những mùi khó chịu và giảm thiểu sự nguy hại của chướng khí. Ví dụ, nước Carmelite, Eau des Carmes, được tạo ra bởi các nữ tu dòng Carmelite người Pháp có chứa Melissa, nước này đã được sử dụng phổ biến trong nhiều thế kỷ.

Aqua Mirabilis là một sự phát triển khác và được giới thiệu bởi một tu sĩ sống ở Cologne, sau này, công thức của ông đã trở nên nổi tiếng với cái tên ‘Eau to Cologne’ nhờ nỗ lực của người cháu trai. Aqua Mirabilis chứa tinh dầu cam hương, cam, chanh, hương thảo, oải hương, húng tây và hoa cam, các loại tinh dầu này được pha loãng trong rượu etylic mạnh và được sử dụng như một loại sản phẩm tăng cường sức khỏe.

Một sự phát triển khác trong thế kỷ 16 là nước của Hoàng gia Hungary, chứa hoa hương thảo tươi, xô thơm, hoa hồng và oải hương cùng những nguyên liệu khác được chưng cất qua rượu.

Ngoài ra còn có nhiều cách sử dụng tinh chất thơm bên cạnh cách dùng nước thơm. Từ tiếng Anh “pomander” bắt nguồn từ tiếng Pháp “pomme d’ambre”, pomanders có nhiều dạng khác nhau, nhưng về cơ bản là một hỗn hợp các chất thơm được đựng trong hộp hoặc túi có đục lỗ, được sử dụng để làm thơm quần áo và khăn trải giường hoặc mang theo người như một biện pháp phòng chống lây nhiễm.

Từ thời Trung cổ cho đến những năm 1700, pomander đã được mang theo mình hoặc treo trong phòng để khử mùi hôi hoặc để làm thơm quần áo. Người ta cũng tin rằng những loại thảo mộc và gia vị có mùi ngọt ngào này có thể xua đuổi các bệnh truyền nhiễm và bảo vệ người mặc quần áo thơm khỏi bệnh tật. Elizabeth I được cho là mang theo một quả pomander nhỏ có hương hoa hồng damask, gỗ cánh kiến và long diên hương, những quả pomander thơm cũng thường xuất hiện trong danh sách các món quà năm mới dành cho Nữ hoàng.