HY LẠP CỔ ĐẠI
Người Hy Lạp đã tích luỹ được rất nhiều kiến thức về các loại cây thơm từ thung lũng sông Nile ở Ai Cập, nơi được coi là cái nôi của nền y học, đó cũng là nhờ chuyến đi của Herodutos vào khoảng thời gian năm 500 - 400 trước công nguyên. Herodotus ghi lại cách phụ nữ Assyrian “dùng đá, gỗ cây bách, tuyết tùng và nhũ hương sau đó đổ nước vào cho đến khi có độ sệt nhất định, bằng cách này, họ đã xức lên mặt và cơ thể để tạo ra một mùi thơm dễ chịu nhất ”. Tiếp sau đó, một trường y khoa được thành lập trên đảo Cos của Hy Lạp và trường học này đã trở nên nổi tiếng nhờ sự bảo trợ của Hippocrates.
Hippocrates sinh ra ở Hy Lạp vào năm 460 TCN, mất năm 377 TCN, và được coi là "cha đẻ của nền y học". Ông đã viết lại tất cả các công dụng hữu ích của các loại thực vật và thảo mộc, ông cũng ghi lại tất cả những kiến thức đã thu được từ người Ai Cập. Các phương pháp điều trị của ông sẽ bao gồm xoa bóp bằng dầu ngâm, sử dụng thảo dược để đun uống, để tắm và các liệu pháp vật lý khác. Phẫu thuật sẽ chỉ được sử dụng như một biện pháp cuối cùng vì ông coi toàn bộ cơ thể như một tổ chức hoàn thiện, toàn diện.
Từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, Hippocrates đã công nhận rằng đốt một số loại cây có mùi thơm sẽ giúp bảo vệ con người khỏi các bệnh truyền nhiễm. Thậm chí, ông còn sử dụng kiến thức về các tinh chất thơm để khử trùng, làm sạch Athens và giúp Athens thoát khỏi bệnh dịch. Cùng với Galen, Hippocrates đã dạy về “sức mạnh chữa lành của tự nhiên”. “Cách để có sức khỏe là tắm nước thơm và xoa bóp bằng dầu thơm mỗi ngày”, và “Người thầy thuốc phải có kinh nghiệm về nhiều thứ và mặc dù không có gì có thể kết nối được một khớp xương quá lỏng lẻo và nới lỏng một khớp xương quá cứng nhưng hãy cứ yên tâm xoa bóp ”
Nền tảng của y học Hy Lạp dựa trên sự cân bằng tinh thần, cảm xúc và thể chất. Bệnh tật được coi là sự xáo trộn của sự cân bằng này, con đường hồi phục lại sức khỏe là sự tái cân bằng của ba yếu tố này - nói cách khác, đó là sự cân bằng tổng thể, toàn diện. Ngày nay, Hippocrates được biết đến nhiều hơn với lời thề Hippocrate mà tất cả các bác sĩ chuẩn bị ra trường để hành nghề phải đọc và nguyện làm theo.
Theophrastus (370-285BC), một sinh viên triết học người Hy Lạp, là học trò của cả Plato và Aristotle, và sau này là lãnh đạo của Trường Peripatetic, người đã viết luận thuyết đầu tiên về mùi hương. Ông lập danh sách tất cả các chất thơm của Hy Lạp và và các chất thơm nhập khẩu, thảo luận về cách sử dụng chúng. Theophrastus đã ghi lại một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của liệu pháp hương thơm - rằng dầu thơm khi xoa bên ngoài vẫn có thể ảnh hưởng đến hoạt động bên trong cơ thể. Tác phẩm của ông có tựa đề “Tìm hiểu về thực vật” thể hiện những nỗ lực đầu tiên để ghi lại một cách có hệ thống những quan sát về thực vật và liệt kê chúng theo những điểm tương đồng.
Người Hy Lạp tin rằng hương thơm ngọt ngào có nguồn gốc từ thần thánh. Trong thần thoại cổ đại của họ, các vị thần xuống trần gian trên những đám mây có mùi thơm, mặc những chiếc áo choàng thấm đẫm tinh chất thơm. Sau khi chết, người Hy Lạp cũng tin rằng những người đã khuất đã đến Elysium, nơi không khí luôn luôn có mùi thơm ngọt ngào nhờ mùi hương từ những dòng sông thơm.
Một người Hy Lạp, tên là Magallus, đã tạo ra một loại nước hoa kết hợp giữa một dược, quế cinnamon và quế cassia, sau đó đã trở nên nổi tiếng khắp đất nước, là nhờ bên cạnh mùi thơm thì loại nước hoa này có đặc tính chữa lành vết thương và chống viêm của nó. Thực tế, những người lính Hy Lạp cũng thường dùng một loại thuốc mỡ có chứa một dược để mang theo khi tham gia chiến trận, họ sẽ cần dùng khi bị thương vì một dược có đặc tính kháng khuẩn và chữa lành rất tuyệt vời.
Một bác sĩ nổi tiếng người Hy Lạp khác, tên là Marestheus, nhận ra rằng một số loại cây có mùi thơm thường có đặc tính kích thích, còn các hương thơm từ hoa hồng, từ trái cây và các loại gia vị sẽ giúp cải thiện tinh thần uể oải và mệt mỏi trở nên tươi tỉnh, nhẹ nhõm hơn.